Quy mô sản xuất vừa sức là mức mà năm thứ cùng gánh được: đất và nước, vốn tự có cộng phần vay trả nổi khi giá xấu, công lao động vào lúc cao điểm nhất của vụ, lượng người mua thật sự nhận, và sức quản lý — sổ sách, theo dõi, sức khoẻ — của người làm chính. Quy mô hợp lý do giới hạn chặt nhất trong năm thứ đó quyết định, không do giới hạn rộng nhất.
Nhiều nông hộ nghĩ quy mô theo đất: có bao nhiêu đất làm bấy nhiêu. Nhưng nhà có đất rộng mà ít người làm, hoặc có đất mà không có người mua cho từng ấy hàng, sẽ thấy làm hết đất là làm quá sức. Bài này giúp bạn đo từng giới hạn, tìm ra cái chặt nhất, và biết những dấu hiệu cho thấy mình đang làm vượt sức.
Năm giới hạn của một nông hộ
Đất và nước. Diện tích làm được, mùa nào có nước, mùa nào thiếu. Nhiều nơi đất đủ cho hai vụ nhưng nước chỉ đủ một vụ rưỡi. Giới hạn thật là phần đất có nước vào đúng lúc cây cần.
Vốn. Không chỉ là tổng tiền, mà là số tiền có vào tháng phải chi nhiều nhất. Quy mô vừa sức về vốn là mức mà nếu giá rớt một vụ, nhà vẫn trả được nợ và vẫn có tiền làm vụ sau.
Công lao động lúc cao điểm. Một vụ có lúc nhàn, có lúc dồn — gieo trồng, thu hoạch, xuất chuồng. Quy mô bị giới hạn bởi số việc phải làm trong tuần bận nhất, không bởi số ngày công trung bình.
Người mua. Bao nhiêu hàng bạn bán được ở giá chấp nhận được, trong khoảng thời gian hàng còn tươi. Làm vượt lượng này thì phần thừa phải bán rẻ hoặc bỏ.
Sức quản lý. Theo dõi được bao nhiêu luống, bao nhiêu chuồng, ghi được bao nhiêu sổ, giữ được bao nhiêu mối khách. Đây là giới hạn ít ai tính mà hay vỡ nhất khi làm lớn lên.
Giới hạn chặt nhất quyết định quy mô
Hãy hình dung cái thùng gỗ ghép từ năm tấm ván dài ngắn khác nhau. Nước chỉ đổ được tới mép tấm ván ngắn nhất. Quy mô nông hộ cũng thế: đất đủ cho hai mẫu, vốn đủ cho một mẫu rưỡi, nhưng công lúc thu hoạch chỉ đủ cho một mẫu, thì một mẫu là quy mô vừa sức. Làm hai mẫu nghĩa là tới mùa thu, một nửa vườn chín quá lứa hoặc phải thuê công với giá cao nhất năm.
Cách đo: viết năm giới hạn ra năm dòng, ghi cạnh mỗi dòng quy mô tối đa mà giới hạn đó cho phép. Với đất và nước, đó là diện tích có nước tưới. Với vốn, đó là quy mô mà tổng chi tháng đáy không vượt tiền có sẵn cộng khoản vay an toàn. Với công, lấy tuần bận nhất, đếm việc phải làm trên mỗi đơn vị diện tích hoặc mỗi trăm con, chia cho số công nhà có cộng công thuê chắc chắn tìm được. Với người mua, lấy lượng mà các kênh đã hỏi nhận được. Với quản lý, tự hỏi thẳng: hiện tại có đang theo dõi đủ không.
Dòng có số nhỏ nhất là quy mô vừa sức hiện tại. Nếu muốn làm lớn hơn, việc đầu tiên không phải mua thêm giống mà là nới chính giới hạn đó: thêm kênh bán, đổi cách làm để bớt công lúc cao điểm, để dành thêm vốn. Nới tấm ván khác không giúp gì.
Đếm công lúc cao điểm: ví dụ giả định
Công là giới hạn hay bị đánh giá thấp nhất vì người ta nhìn trung bình cả vụ. Ví dụ giả định dưới đây với một nông hộ hai lao động chính trồng rau ăn trái, số công tính cho mỗi sào.
| Giai đoạn | Việc chính | Công cần mỗi sào mỗi tuần | Công nhà có mỗi tuần |
|---|---|---|---|
| Làm đất, gieo | Làm luống, trồng, tưới | 3 | 12 |
| Chăm | Tưới, làm cỏ, bón, phun | 1 | 12 |
| Thu rộ | Hái, phân loại, đóng gói, chở bán | 5 | 12 |
| Cuối vụ | Dọn, thu nốt | 2 | 12 |
Nhìn trung bình, mỗi sào chỉ cần chưa tới ba công một tuần, nhà có mười hai công tưởng làm được bốn sào. Nhưng tuần thu rộ mỗi sào cần năm công, nên chỉ hai sào là vừa với công nhà; muốn làm bốn sào phải thuê thêm khoảng tám công mỗi tuần đúng lúc cả xóm cũng đang cần người.
Cách nới giới hạn này: chia lứa gieo cách nhau để các tuần thu rộ không trùng, chọn kênh bán không đòi phân loại kỹ cho một phần sản lượng, hoặc thoả thuận trước công thuê với vài người quen.
Vốn: quy mô theo sức chịu của năm xấu
Quy mô vừa sức về vốn không tính theo năm tốt. Hãy hỏi: nếu vụ tới giá thấp như năm thấp nhất mà bạn biết, hoặc sản lượng chỉ đạt hai phần ba, thì nhà còn trả được nợ không, còn đủ tiền làm vụ tiếp không. Nếu câu trả lời là không, quy mô đang vượt sức vốn, dù năm tốt thì rất lời.
Một nguyên tắc thận trọng nhiều người làm lâu năm hay dùng: phần vốn vay không nên lớn tới mức một vụ xấu buộc phải bán tài sản thiết yếu để trả. Không có con số chung cho mọi nhà, vì nó tuỳ nguồn thu khác của gia đình. Cách làm là tính thử: khoản nợ phải trả kỳ tới chia cho tiền dư trong vụ xấu — nếu lớn hơn một, đó là dấu hiệu nguy hiểm.
Vốn cũng không chỉ là tiền đầu tư. Tiền mặt dự phòng để mua thuốc khi dịch, trả công thuê khi thu rộ, sửa máy bơm hỏng giữa mùa khô cũng là một phần của quy mô. Nhà dồn hết tiền vào giống và chuồng, không còn đồng nào dự phòng, thực chất đang làm vượt sức vốn.
Các nguồn vốn chính thức, cách lập phương án vay và trả nợ theo mùa vụ có trong chuyên mục vốn và vay vốn của trang.
Sức quản lý: giới hạn ít người nhìn thấy
Khi quy mô nhỏ, người làm chính nhớ được từng luống, từng chuồng. Khi lớn lên, trí nhớ không đủ nữa: quên ngày phun, quên lứa nào đã tiêm, quên khách nào còn nợ tiền. Những lỗi ấy không làm hỏng vụ ngay, nhưng cộng lại thành hao hụt, thành tiền không đòi được.
Dấu hiệu đang vượt sức quản lý khá rõ: sổ sách bỏ dở, không trả lời được ngay câu "lứa này tốn bao nhiêu", người làm chính ngủ ít đi trong nhiều tuần liền, việc gấp liên tục chen vào việc quan trọng. Sức khoẻ của người làm chính cũng là một phần của quy mô: một người gồng gánh cả trại, khi ốm một tuần là cả trại chững lại.
Nới giới hạn quản lý bằng cách chia việc rõ cho người khác trong nhà, ghi sổ đơn giản nhưng đều, dùng điện thoại nhắc lịch, và quan trọng nhất là đừng tăng quy mô cùng lúc với đổi cây con mới. Hai thay đổi chồng lên nhau là cách nhanh nhất để mất kiểm soát.
Người mua đặt trần cho sản lượng
Với hàng tươi, giới hạn người mua thường chặt hơn người ta tưởng. Rau, trái chín, gà, cá đến lứa không chờ được lâu. Nếu các kênh bạn có chỉ nhận đều đặn một lượng nhất định mỗi tuần, phần làm vượt sẽ phải bán gấp cho bất kỳ ai, thường ở giá thấp nhất, hoặc hỏng tại vườn.
Cách tính trần này: cộng lượng mà từng người mua đã nói chuyện trực tiếp nhận được trong một tuần cao điểm, rồi nhân với một hệ số thận trọng, chẳng hạn chỉ tính bảy phần mười, vì lời hứa mua lúc chưa thấy hàng luôn rộng hơn lúc thật. Lượng đó quy ngược ra diện tích hoặc số con là trần của quy mô theo người mua.
Hàng để được lâu như lúa khô, hạt, củ khô, nông sản đã sơ chế thì trần này nới hơn, vì bạn có thể bán dần. Nhưng để lâu cũng tốn: kho, hao hụt, lãi vốn nằm chờ. Nhiều nông hộ chọn cách giữ hai phần sản phẩm, một phần bán tươi theo trần của kênh, một phần sơ chế để bán dần, để quy mô không bị kênh tươi giới hạn hoàn toàn.
Hai nông hộ, hai quy mô vừa sức
Ví dụ giả định dưới đây đặt hai nhà cùng có ba mẫu đất cạnh nhau để thấy vì sao không có một con số quy mô đúng cho mọi nhà.
| Giới hạn | Nhà thứ nhất | Nhà thứ hai |
|---|---|---|
| Đất có nước | Ba mẫu | Ba mẫu |
| Công lúc cao điểm | Bốn người, đủ cho hai mẫu | Hai người, đủ cho một mẫu |
| Vốn và dự phòng | Đủ cho ba mẫu, có quỹ dự phòng | Đủ cho hai mẫu, chưa có dự phòng |
| Người mua đã có | Đủ nhận hàng của hai mẫu rưỡi | Đủ nhận hàng của một mẫu rưỡi |
| Quy mô vừa sức | Hai mẫu, phần còn lại trồng cây ít tốn công | Một mẫu, phần còn lại cho thuê ngắn hạn |
Nhà thứ nhất bị giới hạn bởi công, nhà thứ hai bị giới hạn cả bởi công lẫn người mua. Cùng diện tích đất, quy mô hợp lý chênh nhau gấp đôi. Nếu nhà thứ hai bắt chước nhà thứ nhất làm hai mẫu, họ sẽ thiếu người lúc thu và thừa hàng lúc bán.
Rủi ro và cách giảm khi chọn quy mô
Chọn quy mô là cân giữa làm quá nhỏ và làm quá sức. Cả hai đều có rủi ro:
- Quá nhỏ: chi phí cố định nặng. Máy móc, chuồng trại chia cho ít sản phẩm nên giá thành cao. Cách giảm: dùng chung máy với hàng xóm, thuê dịch vụ thay vì mua, tham gia tổ hợp tác.
- Quá nhỏ: không đủ hàng cho người mua lớn. Cách giảm: gom hàng với vài hộ cùng làm, thống nhất quy cách.
- Quá sức: thiếu công lúc cao điểm. Cách giảm: chia lứa, chọn giống chín rải, đặt trước công thuê.
- Quá sức: nợ lớn so với tiền dư năm xấu. Cách giảm: tính quy mô theo năm xấu, giữ quỹ dự phòng trước khi mở rộng.
- Quá sức: hàng nhiều hơn người mua. Cách giảm: chỉ tăng sản lượng khi đã có thêm kênh bán đã kiểm chứng.
- Quá sức: mất kiểm soát. Cách giảm: không tăng quy mô và đổi mặt hàng cùng một lúc; ghi sổ trước khi lớn.
Quy mô vừa sức không đứng yên. Mỗi năm, khi bạn có thêm người mua, thêm kinh nghiệm, thêm tiền để dành, giới hạn chặt nhất có thể nới ra và quy mô vừa sức tăng theo. Điều quan trọng là tăng theo giới hạn đã được nới, không tăng theo mong muốn.
Câu hỏi thường gặp
Có đất rộng thì có nên làm hết diện tích ngay không?
Không nhất thiết. Đất chỉ là một trong năm giới hạn. Nếu công, vốn, người mua hoặc sức quản lý chưa đủ, làm hết đất sẽ dẫn tới thiếu người thu hoạch, thiếu tiền giữa vụ hoặc hàng thừa phải bán rẻ. Phần đất chưa dùng có thể cho thuê ngắn hạn hoặc trồng cây ít tốn công.
Làm sao biết mình đang làm quá sức?
Các dấu hiệu thường gặp: tuần thu hoạch không kịp, phải bỏ hàng quá lứa; sổ sách bỏ dở; phải vay nóng giữa vụ; người làm chính kiệt sức nhiều tuần liền; có hàng mà không đủ người mua. Một hai dấu hiệu là lời nhắc, nhiều dấu hiệu cùng lúc là lúc nên thu hẹp.
Làm nhỏ có thiệt so với làm lớn không?
Có thể thiệt ở chi phí cố định và sức mặc cả khi bán. Nhưng làm nhỏ linh hoạt hơn, ít rủi ro nợ hơn và dễ chăm kỹ hơn. Nhiều nông hộ bù phần thiệt bằng dùng chung máy móc, mua chung vật tư và gom hàng bán chung qua tổ hợp tác.
Thuê thêm công có giúp làm lớn hơn không?
Có, nếu công thuê tìm được chắc chắn vào đúng tuần cao điểm và giá công vẫn để lại phần dư. Ở nhiều vùng, lúc mình cần người cũng là lúc cả xóm cần, công thuê vừa đắt vừa khó tìm. Nên thoả thuận trước và tính giá công cao điểm vào kế hoạch.
Quy mô vừa sức có thay đổi theo thời gian không?
Có. Khi nhà có thêm người mua ổn định, thêm kinh nghiệm, thêm tiền dự phòng hoặc cách làm bớt công, giới hạn chặt nhất được nới ra và quy mô vừa sức tăng. Nên xem lại năm giới hạn mỗi năm một lần.