Phương án vay vốn nông nghiệp là bản trình bày ngắn cho người cho vay thấy bạn sẽ làm gì với tiền, cần bao nhiêu, nhà tự góp bao nhiêu, khi nào có tiền về và lấy gì trả nợ. Cán bộ tín dụng không cần văn hay; họ cần các con số khớp nhau và một nguồn trả nợ đứng vững ngay cả khi giá nông sản đi xuống.
Nhiều ngân hàng có mẫu sẵn chỉ vài trang, nhưng điền mẫu cho có thì dễ bị hỏi lại nhiều lần. Bài này đi qua bảy phần mà phương án nào cũng cần, cách tính nhu cầu vốn, cách trình bày nguồn trả nợ và những chỗ người đọc hồ sơ hay vặn. Mọi con số trong bài là ví dụ giả định.
Phương án vay khác kế hoạch kinh doanh ở chỗ nào
Kế hoạch kinh doanh của nông hộ trả lời câu "nhà mình làm gì cho có lời": chọn cây con, tính giá thành, tìm đầu ra. Phương án vay vốn chỉ là một lát cắt của kế hoạch đó, nhìn từ phía người cho vay. Họ không quan tâm lắm vụ này lời nhiều hay ít; họ quan tâm tiền có quay về đúng hạn không, và nếu không thì còn gì để thu.
Vì vậy phương án vay đặt trọng tâm khác. Phần doanh thu được nhìn thận trọng hơn, phần chi phí được kê chi tiết hơn, và có hẳn một phần về nguồn trả nợ dự phòng: lương của người trong nhà, nguồn thu từ cây con khác, tài sản bảo đảm. Một kế hoạch đầy hứng khởi mà thiếu phần này thường bị trả về.
Một khác biệt nữa là độ dài. Kế hoạch kinh doanh có thể dài vì nó dùng để nhà mình suy nghĩ; phương án vay nên gọn trong vài trang vì người đọc là cán bộ tín dụng phải xem nhiều hồ sơ một ngày. Viết ngắn không có nghĩa là viết sơ sài: mỗi con số vẫn phải có nguồn, mỗi khoản chi vẫn phải gắn với một việc cụ thể ngoài đồng hay trong chuồng.
Nếu bạn đã có kế hoạch kinh doanh một trang cho nông hộ, việc viết phương án vay nhanh hơn nhiều: lấy số từ kế hoạch, cắt bớt phần lạc quan, thêm lịch trả nợ và phần rủi ro. Nếu chưa có, viết phương án vay cũng là dịp buộc mình tính lại cho kỹ trước khi cầm tiền của người khác.
Bảy phần của một phương án vay vốn
Thứ tự dưới đây đi theo cách người thẩm định đọc: ai vay, vay làm gì, cần bao nhiêu, trả bằng gì, nếu hỏng thì sao.
- Thông tin hộ vay. Người đứng tên, người cùng chịu trách nhiệm (vợ hoặc chồng, con đã trưởng thành cùng làm), nơi cư trú, nghề chính, số năm làm nghề, các khoản đang nợ ở đâu.
- Việc định làm. Một hai câu cụ thể: trồng bao nhiêu sào rau gì, nuôi bao nhiêu con gì, làm bao nhiêu mét vuông nhà lưới, mua máy gì. Có ảnh vườn, chuồng hiện tại càng tốt.
- Tổng nhu cầu vốn. Kê từng khoản: giống, vật tư, công, máy móc, chuồng trại, chi phí khác. Tách phần dùng một vụ và phần dùng nhiều năm.
- Vốn đối ứng. Nhà góp bao nhiêu, bằng tiền mặt hay bằng công, đất, chuồng sẵn có. Số xin vay bằng tổng nhu cầu trừ vốn đối ứng.
- Dự kiến thu. Sản lượng, giá bán dự kiến lấy theo mức thấp của vài năm gần đây, thời điểm bán, bán cho ai. Có hợp đồng bao tiêu hoặc người mua quen thì ghi rõ.
- Nguồn trả nợ và lịch trả. Tiền trả gốc, trả lãi lấy từ đâu, vào tháng nào. Nêu nguồn dự phòng nếu vụ này hỏng.
- Tài sản bảo đảm hoặc hình thức bảo đảm. Sổ đỏ, máy móc, tài sản hình thành từ vốn vay, hoặc vay qua tổ theo chính sách không cần tài sản.
Phần nào không có thông tin thì ghi thật là chưa có, đừng bỏ trống. Ô trống buộc người đọc tự đoán, và họ thường đoán theo hướng thận trọng.
Tính nhu cầu vốn và số xin vay
Ví dụ giả định: nuôi thêm một lứa heo thịt cho chuồng đã có sẵn. Các số chỉ để minh hoạ cách lập bảng, không phải giá thực tế.
| Khoản | Số tiền (triệu đồng) | Dùng trong | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Con giống | 60 | Một lứa | Theo số con dự kiến |
| Thức ăn | 120 | Một lứa | Chia nhiều đợt mua |
| Thú y, vệ sinh chuồng | 10 | Một lứa | Theo lịch phòng bệnh |
| Sửa máng, hệ nước | 15 | Nhiều năm | Đầu tư một lần |
| Điện, nước, công phụ | 15 | Một lứa | |
| Tổng nhu cầu | 220 | ||
| Vốn đối ứng của nhà | 80 | Tiền mặt 50, chuồng và công tự làm quy ra 30 | |
| Số xin vay | 140 | Kỳ hạn khớp thời gian nuôi và bán |
Hai điều nên để ý. Một, phần quy công và chuồng sẵn có ra tiền phải hợp lý, đừng thổi lên để giảm số vay trên giấy. Hai, thức ăn nên được giải ngân nhiều đợt theo tiến độ nuôi; vừa đỡ lãi, vừa cho người cho vay thấy tiền đi đúng chỗ.
Bảng này cũng là chỗ để bạn tự kiểm. Nếu dòng thức ăn chiếm phần lớn tổng chi mà bạn chưa hỏi giá ở ít nhất hai đại lý, con số đó mới chỉ là ước đoán. Nếu dòng con giống chưa tính hao hụt do chết, loại thải trong lứa, sản lượng bán ra sẽ thấp hơn số con thả. Mỗi dòng nên có một ghi chú ngắn nói con số lấy từ đâu: hoá đơn vụ trước, báo giá của đại lý, hay ước lượng của chính nhà mình. Người thẩm định thấy ghi chú nguồn sẽ ít hỏi lại, và bạn cũng biết dòng nào cần kiểm thêm trước khi ký.
Nguồn trả nợ: phần quyết định khoản vay
Người thẩm định đọc phần này kỹ nhất. Nguồn trả nợ chính là tiền bán sản phẩm của chính khoản đầu tư. Nhưng một phương án chỉ có nguồn này thì yếu, vì nông nghiệp luôn có năm mất mùa, năm rớt giá. Phương án tốt ghi thêm nguồn thứ hai: lương của một người trong nhà đi làm công ty, tiền bán cây con khác trong năm, khoản tiết kiệm để dành riêng cho trả nợ.
Khi tính tiền bán, dùng giá thấp chứ không dùng giá đẹp nhất năm ngoái. Ví dụ giả định: nếu giá bán heo hơi những năm gần đây dao động giữa mức thấp và mức cao, bạn tính theo mức thấp rồi xem sau khi trừ chi phí còn đủ trả gốc và lãi không. Đủ thì phương án đứng được. Không đủ thì cần giảm quy mô, tăng vốn đối ứng hoặc kéo dài kỳ hạn.
Lịch trả nên vẽ thành bảng theo tháng: tháng nào có tiền về, tháng nào đến hạn trả lãi, trả gốc. Nhìn bảng, bạn sẽ thấy ngay những tháng "trống" phải lấy tiền từ nguồn khác để trả lãi. Ghi rõ nguồn đó vào phương án. Cán bộ tín dụng thấy bạn đã nghĩ đến những tháng khó thì yên tâm hơn nhiều so với một bảng toàn số dương.
Những chỗ cán bộ tín dụng hay hỏi lại
Kinh nghiệm thật. Bạn đã làm việc này bao lâu, quy mô lớn nhất từng làm là bao nhiêu. Người chưa từng nuôi heo xin vay nuôi một lứa lớn sẽ bị hỏi rất kỹ. Có kinh nghiệm thì ghi số năm, có người cùng làm có nghề thì ghi tên vai trò.
Giá bán dựa vào đâu. Đừng ghi một con số không nguồn. Ghi "theo giá thương lái mua tại vườn các vụ trước" hoặc "theo hợp đồng với cơ sở thu mua", kèm bản chụp nếu có.
Ai mua. Bán cho thương lái quen, bán chợ đầu mối, có hợp đồng bao tiêu hay bán lẻ qua mạng. Đầu ra mơ hồ là lý do hay gặp để giảm số vay.
Các khoản nợ khác. Ngân hàng sẽ tra lịch sử tín dụng. Khai thiếu một khoản đang nợ rồi bị phát hiện thì mất điểm hơn nhiều so với khai đủ.
Ai cùng ký. Với tài sản chung của vợ chồng hoặc của nhiều người trong hộ, người cho vay cần đủ chữ ký của những người có quyền. Chuẩn bị trước để khỏi phải hẹn đi hẹn lại.
Kế hoạch khi hỏng. Dịch bệnh, mất mùa thì làm gì. Có mua bảo hiểm nông nghiệp không, có quỹ dự phòng không. Một câu trả lời thật thà luôn tốt hơn câu "không sao đâu".
Lỗi hay gặp khi viết phương án
Phần lớn hồ sơ bị trả về không phải vì việc định làm dở, mà vì cách trình bày khiến người đọc không tin được.
- Doanh thu tính theo giá cao nhất từng thấy, chi phí bỏ sót công lao động của chính nhà mình.
- Gộp tiền mua máy dùng mười năm và tiền mua phân dùng một vụ vào cùng một khoản vay ngắn hạn.
- Không có vốn đối ứng, hoặc vốn đối ứng toàn là "công tự làm" không quy đổi rõ ràng.
- Viết quy mô lớn hơn hẳn những gì nhà từng làm, không có giai đoạn thử.
- Lịch trả nợ hàng tháng đều đặn trong khi tiền chỉ về mỗi năm một hai lần.
- Chép mẫu phương án của nhà khác, giữ nguyên số liệu cây trồng không giống mình.
- Bỏ trống phần tài sản bảo đảm hoặc phần nguồn trả nợ dự phòng.
Cách tự soát nhanh là đưa bản nháp cho một người trong nhà không tham gia viết, nhờ họ đọc to từng con số và hỏi "số này ở đâu ra". Chỗ nào bạn phải ngập ngừng giải thích là chỗ người thẩm định cũng sẽ dừng lại.
Sửa được bảy lỗi này thì một phương án hai ba trang đã đủ sức thuyết phục hơn một tập hồ sơ dày mà rời rạc.
Rủi ro của chính khoản vay và cách giảm
Vay theo con số mình muốn chứ không theo con số mình trả nổi. Lấy lịch trả nợ làm gốc, tính ngược ra số vay tối đa, rồi mới chọn quy mô. Đừng làm ngược lại.
Phương án viết để được duyệt, không phải để làm. Phương án là bản đồ cho chính bạn. Viết đẹp hơn thực tế thì người chịu thiệt đầu tiên là nhà mình, khi tiền đã giải ngân mà kế hoạch không chạy.
Một nguồn trả nợ. Thêm nguồn thứ hai ngay từ đầu, dù nhỏ. Một khoản tiết kiệm đều đặn mỗi tháng để dành riêng cho kỳ trả lãi giúp nhà qua được những tháng trống tiền.
Thay đổi giữa chừng. Định nuôi heo nhưng giữa chừng chuyển sang nuôi gà vì nghe nói giá tốt. Dùng vốn khác mục đích đã ghi là rủi ro với cả hai bên; có thay đổi thì báo người cho vay trước.
Tin vào người làm hồ sơ hộ. Có người nhận viết phương án và "lo" giấy tờ kèm phí. Bạn có thể nhờ cán bộ hội hoặc cán bộ khuyến nông góp ý, nhưng số liệu phải là của bạn và bạn phải giải thích được từng dòng.
Câu hỏi thường gặp
Phương án vay vốn nông nghiệp có cần viết tay không?
Không bắt buộc. Viết tay, đánh máy hay điền vào mẫu của ngân hàng đều được, miễn rõ ràng và có chữ ký của người vay. Nhiều nơi có mẫu sẵn, bạn xin mẫu trước rồi viết nháp các con số ở nhà cho kỹ.
Vốn đối ứng tối thiểu là bao nhiêu phần trăm?
Không có một con số chung cho mọi khoản vay. Tỷ lệ phụ thuộc chính sách từng ngân hàng, loại khoản vay và tài sản bảo đảm. Nguyên tắc chung là nhà góp càng nhiều thì khoản vay càng dễ được chấp nhận và áp lực trả nợ càng nhẹ. Bạn hỏi trực tiếp nơi định vay.
Có thể tính công lao động của gia đình vào vốn đối ứng không?
Một số nơi chấp nhận quy đổi công, đất, chuồng trại sẵn có ra giá trị, một số nơi chỉ tính tiền mặt và tài sản. Nếu quy đổi, ghi rõ cách tính và đừng thổi phồng. Phần quy đổi quá cao dễ làm cả phương án mất tin cậy.
Chưa có hợp đồng bao tiêu thì phương án có bị loại không?
Không nhất thiết. Nhiều nông hộ bán cho thương lái quen hoặc chợ đầu mối nhiều năm. Ghi rõ kênh bán đã dùng, sản lượng đã bán các vụ trước, người mua quen thuộc. Kinh nghiệm bán thật có sức nặng không kém một tờ hợp đồng.
Phương án bị từ chối thì làm gì tiếp?
Hỏi rõ lý do bị từ chối và ghi lại. Thường gặp là vốn đối ứng thấp, nguồn trả nợ yếu hoặc quy mô quá lớn so với kinh nghiệm. Sửa đúng chỗ đó, có thể giảm quy mô hoặc thử một vụ nhỏ bằng vốn nhà, rồi nộp lại sau.